Add more regulating lakes
Tại Quy hoạch tổng thể Thủ đô với tầm nhìn 100 năm, UBND TP Hà Nội xác định, để giải quyết bài toán ngập úng, cần quy hoạch xây dựng các công trình ngầm. Giao thông ngầm phải đồng bộ với hệ thống giao thông vành đai, hướng tâm và xuyên tâm, kết hợp hệ thống thu gom nước ngầm, bể ngầm chống ngập úng và các trạm bơm (cốt ngầm trên là hệ thống giao thông, cốt ngầm dưới là bể ngầm chứa nước).
Quy hoạch hệ thống không gian ngầm đa năng (giao thông - thương mại - bãi đỗ xe - thoát nước) theo mô hình TOD - mô hình phát triển đô thị theo định hướng phát triển giao thông công cộng tại các nút giao thông lớn.
Đặc biệt, nghiên cứu xây dựng hệ thống "bể ngầm khổng lồ" chứa nước mưa kết hợp giao thông để giải quyết triệt để ngập úng.
UBND TP cho biết mô hình đô thị ngầm đang được nghiên cứu để ứng dụng tại các khu vực cải tạo chung cư cũ với các ga tàu điện ngầm theo mô hình TOD, trung tâm thương mại ngầm kết nối.
Cùng với đó, nghiên cứu quy hoạch bổ sung thêm các hồ điều hòa trữ nước, thoát nước, chống úng ngập tại những khu vực có cốt nền thấp, thường xuyên ngập úng; kết hợp phát triển trồng rừng, đào hồ lớn tích nước dự trữ thoát nước. Nghiên cứu mở rộng một số đoạn, tuyến sông thuộc vành đai xanh, hành lang xanh, bãi sông (tạo dung tích trữ nước, âu chứa nước lớn phục vụ thoát nước).
Determine elevations for safe and stable areas and drainage systems through solutions: Building regulating lakes, reservoirs, underground systems combined with traffic in large technical tunnels or trenches for storing and draining water when it rains heavily, reducing pressure on the main drainage system and limiting localized flooding.
Thành phố sẽ tiến hành xây dựng các trạm bơm công suất lớn. Trong các trường hợp khẩn cấp hoặc khu vực trũng thấp thường xuyên ngập úng, có thể sử dụng hệ thống bơm công suất lớn để chủ độn bơm nước cho khu vực ngập.
Green corridor area planning
Để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường, Hà Nội nghiên cứu rà soát quy hoạch xử lý chất thải rắn Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; đánh giá cụ thể ưu, nhược điểm từng khu xử lý rác về vị trí, quy mô, công suất, công nghệ, bán kính phục vụ, ảnh hưởng môi trường (ví dụ Khu xử lý chất thải rắn Xuân Sơn hình thành từ lâu, quy mô chôn lấp lớn, hạn chế về công nghệ xử lý, nguy cơ ô nhiễm cho vùng hồ Xuân Khanh và hồ Suối Hai là vùng cảnh quan du lịch sinh thái của thành phố); đề xuất tăng hoặc giảm địa điểm, quy mô, yêu cầu công nghệ xử lý.
Thành phố nghiên cứu quy hoạch dây chuyền xử lý rác thải, nước thải; phân loại rác thải; rà soát bổ sung địa điểm, quy mô các khu xử lý nước thải đồng bộ với quy hoạch phát triển đô thị theo cấu trúc mới.
Bên cạnh đó, nghiên cứu rà soát quy hoạch khu vực hành lang xanh, vành đai xanh các sông: Đáy, Tích, Nhuệ, Tô Lịch,… có giải pháp khơi thông dòng chảy, tuần hoàn làm sạch nước, xử lý ngăn thoát nước thải trực tiếp bằng hệ thống đường ống thu gom kết hợp đường, đê; bổ sung xây dựng các hồ lớn điều hòa; quy hoạch xây dựng công viên rừng, thể dục thể thao môi trường sinh thái dọc các con sông, hành lang xanh và nêm xanh.