Ông P.Đ.H ở Bắc Ninh chia sẻ, ông sinh năm 1965 làm giáo viên cấp 2 ở Bắc Ninh. Do trước đây, việc khai sinh rất qua loa nên giấy tờ của ông không ghi ngày tháng mà chỉ ghi thông tin năm sinh 1965. Vậy theo quy định ông H sẽ được tính thời điểm hưởng lương hưu như thế nào?
Trao đổi về vấn đề này, Luật sư Nguyễn Thu Trang, Phó Giám đốc Công ty TNHH Luật Heva cho biết, Nghị định 158/2025/NĐ-CP quy định hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Bảo hiểm xã hội 2024 về chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Article 12 of this Decree stipulates the conditions for enjoying pensions as follows:
Khi xác định điều kiện hưởng lương hưu đối với trường hợp hồ sơ của người lao động không xác định được ngày, tháng sinh mà chỉ có năm sinh thì lấy ngày 1 tháng 1 của năm sinh để làm căn cứ xác định tuổi của người lao động.
Trường hợp không xác định được ngày sinh mà chỉ có tháng, năm sinh thì lấy ngày 1 của tháng, năm sinh để làm căn cứ xác định tuổi của người lao động.
Luật sư Nguyễn Thu Trang cũng cho biết thêm, Điều 169 Bộ luật Lao động 2019, người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi đủ tuổi nghỉ hưu.
Theo đó, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.
Theo khoản 2 Điều 4 Nghị định 135/2020/NĐ-CP của Chính phủ thì độ tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường từ 2026 sẽ được xác định như sau: Lao động nam sẽ là 61 tuổi 6 tháng, lao động nữ sẽ là 57 tuổi.

Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp không xác định được ngày, tháng sinh thì thời điểm tính điều kiện nghỉ hưu của ông H là từ 1.1.1965.
Đối chiếu theo quy định hiện hành, trong điều kiện lao động bình thường, ông H sẽ được hưởng lương hưu khi đủ 61 tuổi 6 tháng. Nghĩa là ông có thể sẽ được hưởng lương hưu từ tháng 6.2026.